Skip to main content

những thứ hết

thứ đầu tiên hết là dầu gội đầu và kem bôi mặt.
không sao, ta có thể đi mua thứ thay thế, miễn là dòng tiền vẫn chảy, với tỉ giá mua vào cộng bán ra chia đôi.
thứ hết mà gây đau khổ và khốn khó nhất là thuốc uống, thuốc an thần.
cái này hơi khó, nhưng có thể dùng xêduxen khi quá kẹt.
thứ hết mà gay go là quần áo.
quần áo chỉ mang cho mấy tháng thu-đông và một chút công tác nhiệt đới, giờ dồn đống xong một vali màu lông chuột, mỗi lần sờ vào đều thấy nhớp tay, phải thở dài.
không có váy vóc nhẹ bỗng và xông xáo, những sắc màu của mùa hè, xăng đan đi bền chân và không sợ ngấm mưa.
oải hương không nở hoa, đành ôm trong lòng một cành hương thảo gẫy.

ăn mặc chắp vá, bước đi sợ sệt vì sợ bị hỏi ở đâu về, đeo khẩu trang vì bụi, nhưng cũng để tự bảo vệ trước những câu hỏi xoáy vặn vô tư.
đôi khi sa chân vào một cái hố lởm chởm trên mặt đất, vì mắt vẫn còn mãi nghĩ
rằng hình như còn một bầu trời khác đang chờ.

Comments

Popular posts from this blog

Thế nào là “không gian” trong sân khấu? – một số gợi mở từ Die Klage der Kaiserin (1989) của Pina Bausch

. [Bài viết từ tháng 6 năm 2021]         Die Klage der Kaiserin là bộ phim đầu tay và cũng là duy nhất của Pina Baush. Phim được quay từ tháng mười năm 1987 đến tháng tư năm 1988 tại Wuppertal, ra mắt vào năm 1989 nhưng phải tới năm 2011 mới được phát hành bản DVD. Trong gần năm thập kỷ sự nghiệp, Bausch chỉ vài lần cho phép các tác phẩm của mình được thu hình lại, vậy nên ngoài việc tới nhà hát xem tận mắt, khán giả có khá ít cơ hội để trải nghiệm trọn vẹn các tác phẩm của bà. Cơ hội ấy đã mở ra với Die Klage der Kaiserin (tạm dịch: “Lời than thở của nữ vương”) - một thử nghiệm đưa sân khấu kịch-múa của Pina lên màn hình lớn, khi nghệ sĩ chấp nhận những khả năng và những rủi ro của việc dùng các phương tiện của điện ảnh để diễn giải sân khấu.       Bộ phim mở ra với một cảnh ngoại, ở chính giữa khung hình là một người phụ nữ đang dùng máy thổi lá để thổi tung những chiếc lá vàng đang phủ kín mặt đất xung quanh. Âm thanh thực của cảnh ...

thức dậy trước trăm năm

Trăm năm là một mốc thời gian, cũng là một ước lệ để chỉ sự viên mãn. Chúc cụ già "sống lâu trăm tuổi", chúc đôi vợ chồng song hỉ "bách niên giai lão". Anh Lu (mình vẫn chưa quen với cái tên này lắm) làm thơ có câu "Thôi đừng nói chuyện trăm năm". Trăm năm ấy, có mục đích thì đáng sống, có người bầu bạn thì đáng vui. Nếu không thì cũng đã có Marquez viết tiểu thuyết cho những người cỏn con đọc. Marquez, ngoài Trăm năm cô đơn , còn có một tiểu thuyết khác là Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi . Đọc rộng ra một chút, ở nước Nhật cũng có Người đẹp say ngủ của nhà văn Kawabata với cốt truyện và ngôi kể gần như tương tự. Những nhân vật nam giới chạm ngưỡng tuổi già, nội tâm khép kín và mong ngóng một sự thay đổi nào đó ở những chương cuối cuộc đời mình. Các thiếu nữ say ngủ bên cạnh họ, vượt trên vẻ đẹp phồn thực khơi gợi dục tính, là sức nóng của đời sống vĩnh cữu, của tử cung người phụ nữ ôm ấp những mầm sống tuần hoàn. Hài hước và cũng đáng thương l...

/truyện - người nghệ sĩ bên ngoài bức tường

Platon nói, không có chỗ cho nghệ sĩ trong thành phố của tôi. Người nghệ sĩ chưa bao giờ đặt chân đến đó. Để đi đến thành phố của Platon, người nghệ sĩ đã lênh đênh trên rất nhiều con thuyền khác nhau, ăn những mẩu bánh mỳ thừa từ bữa ăn của các thủy thủ, và nhấm nháp những quả táo lên men. Những đêm biển lặng và bầu trời quang đãng, anh hát cho họ nghe những khúc ca của mặt đất. Tiếng hát và tiếng đàn hòa vào tiếng sóng vỗ ồ oạp vào mạn thuyền, đôi khi họ cũng hát với anh, đôi khi họ chỉ im lặng lắng nghe. Người nghệ sĩ thỉnh thoảng cũng hát những giai điệu do anh tự nghĩ ra, và kể cho chú bé học việc trên tàu rằng những con mòng biển đã dạy anh âm nhạc. Chúng chở trên đôi cánh những khúc ca của sóng và gió. Chú bé lắng nghe anh chăm chú và nói rằng hình như ngày bé, chú cũng từng hiểu ngôn ngữ của các loài chim. Khi lớn lên người ta bảo chú phải chọn lấy một nghề, như là làm nông, thợ rèn hay vào quân đội bảo vệ thành phố, chứ không thể có chuyện một con người hẳn hoi mà lại hót n...